Các công dụng đặc biệt của cây bồ bồ
07-09-2019

cao-bo-bo.jpg

Giới thiệu cây nhân trần

Thường được gọi đa dạng tên theo các vùng khác nhau: Nhân trần, Tuyến hương, Cây chè cát, Người miền trung gọi là Cây hoắc hương núi

Tên tiếng anh: Adenosma caeruleum R. Br. – Adenosma glutinosum (L.) Druce var. caeruleum (R. Br.) Tsoong

Nguồn gốc họ hàng: Cây thuộc họ Scrophulariaceae

Lợi ích: Chữa trị cảm sốt, giúp điều kinh, giúp dễ tiêu hóa, chữa bệnh vàng da, chữa trị bệnh gan, các bện về tiểu tiện như tiểu đục, chữa bại liệt, chữa trị thấp khớp ở trẻ em, bệnh mề đay

Sử dụng toàn bộ phận của cây từ rễ than là đem sắc uống.

Thảo mộc nhân trần là một loại cây thuốc có trong dược điển chuyên được người dân sử dụng cho việc chữa chị bệnh vàng da, chữa các bệnh liên quan đến đường mật, các căn bệnh ở phụ nữ sau sinh. Các cụ thường có câu cho thế hệ sau:

“Nhân trần, ích mẫu đi đâu?)

Để cho gái đẻ đớn đau thế này”

Mặc dù có tên là nhân trần, nhưng cái tên này được chỉ ra ba loại cậy khác nhau, khác nhau về họ và dáng dấp của cây. Bạn lên lưu ý điều này trong việc tiêu dung và nghiên cứu thí nghiệm:

1.1, Thực vật nhân trần có nguồn gốc Việt . Được các nhà nghiên cứu thực vật định nghĩa là Adenosma caeruleum R. Br., cây thuộc họ của cây hoa mõm chó – Scrophulariaceae.

1.2, Cây nhân trần, nhân trần bồ bồ: Sở dĩ có cái tên gọi như này là do một vài nơi gọi cây là bồ bồ, một vài nơi khác lại gọi với cái tên của cây nhân trần. Trong dược điển đã được ghi chép và in ra, có một số tác giả thường đặt với cái tên là cây nhân trần. Nhưng thực tế cây lại được nhiều người gọi với cái tên là cây bồ bồ. Cho đên nay các đơn vị hoạt động trong nghành dược vẫn thu mua làm nguyên liệu chiết xuất thành cao bồ bồ và cung cấp cao bồ bồ này và gọi với cái tên cao nhân trần. Tên khoa học là Adenosma capitatum (Benth.) Benth. ex Hance, thuộc họ Hoa mõm chó Scrophulariacase. Trước đây xác định là Acrocephalus capitatus thuộc họ Hoa môi. Nay mới đính chính lại.

1.3, Cây nhân trần có nguồn gốc ở TQ . Các tài liệu và dược điển của TQ có ghi chép là nhân trần cao,. Sở dĩ có tên gọi như trên vì trên thực tế chỉ thấy giới thiệu trong các tài liệu dược điển TQ, không thấy cây này mọc ở Việt Nam, Cây được gọi với tên tiếng anh là Artemisia capillaris Thunb. Cây dòng họ của Cúc Asteraceae, Cúc dại.

Hiện nay ở Việt Nam người ta thường sử dụng 2 loại là cây nhân trần có nguồn gốc việt nam và cây nhân trần bồ bồ làm nguyên liệu chủ yếu, các nghiên cứ về 2 loại thực vật này còn khá ít ỏi chưa được quan tâm, hay nói cách khác là nghiên cứu chưa được đầy đủ. Nhưng với cây nhân trần mọc ở TQ thì lại được quan tâm nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ nhưng loại cây nhần trần TQ này không được người dân Việt Nam sử dụng.

Xin được giới thiệu chi tiết đầy đủ 3 loại cây này để phục vụ nghười dân và các đơn vị thuận tiện tiêu dùng sử dụng và nghiên cứu thử nghiệm

2.1,  Miêu tả đầy đủ về loài cây này

Thực vật  nhân trần có nguồn gốc Viet Nam hay được gọi với một cái tên rất yêu ở miền bắc là nhân trần cái còn có tên cây nhân trần cái và để nhận biết khác biệt với nhân trần đực tức là cây bồ bồ, cây được các nhà nghiên cứu đặt cho cái tên là  Adenosma caeruleum R. Br. Thực vật nhân trần Viet Nam này được sử dụng phổ biến ở Phú Thọ,Bắc Ninh, Bắc Giang,Vĩnh Phúc và gọi với cái tên ngắn gọn làNhân trần, có một sự nhầm lẫn đã gọi cây nhân trần là cây hoắc hương núi đối với người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Cây nhân trần là một loài có phân bố và mọc tự nhiên ở nhiều nơi trên đất nưới, cây sinh trưởng quanh năm đạt kích cỡ chiều cao khoảng 0,3-1,1 m, cây có hình dạng thân tròn như cái đũa ăn cơm, than cây có màu tím ở phía trên có các long mọc dày đặc quanh than là các long khá trắng và mịn màng, Cây chủ yếu có than chính và có rất ít cành. Cây có lá hình trứng lá đối xứng, Các lá có đầu hơi dài và nhọn, xung quanh mép lá có các rang cưa hơi to, hai mặt của lá bao gồm trên dưới đều có long khá mịn màng, lá có phiến đạt chiều dài từ 2,9 – 8,2 cm, chiều rộng lá đạt từ 1,0 – 3,6cm, Lá có các gân nối nhau nhìn thấy rõ ở mặt dưới của lá, lá có cuống dài khoảng 4-11mm. Khi đem vò toàn bộ bộ phận từ than cành lá thì đều có mùi thơm hơi hắc. Cây có các chùm hoa mọc ở các kẽ lá hoặc ở các đầu nhánh, đầu cành  . Đài hoa có hình dạng như hình cây chuông và được xẻ chia ra 5 thuỳ hơi sâu. Tràng hoa có  màu tim tím hơi xanh đạt kích thước dài khoảng 10,1-14,5mm, Ở môi trên tràng hoa có hình dáng như hình lưỡi, còn môi dưới thì xẻ ra 5 thuỳ khá là đều đặn. Cây có Quả hình dạng trứng, đạt chiều dài bằng đúng kích cỡ chiều dài của đài, có khá nhiều hạt và các hạt khá nhỏ.

–  Thực vật nhân trần được người dân Vĩnh Phúc và Phú Thọ gọi là cây  bồ bồ, có nhiều nơi gọi cây với tên cây nhân trần (Ở các lần ghi và xuất bản trước, chúng tôi đã gọi biệt danh của cây với tên là nhân trần, Ở các vùng phía nam người ta gọi cây là nhân trần đực để xác định khác biệt với cây nhân trần cái hay cây nhân trần tía ở phía Nam)- Adenosma capitatum (thời gian gần đây cũng có người định danh có là Adenosma indianum (Lour.) Merr.-  Điều này cần được xác định và kiểm tra lại). Cầy thuộc loài cỏ đạt chiều cao khoảng 14-75cm, Cây phân cành các cành được phân bố từ gốc tới ngọn, cây có thân khá nhẵn và chỉ có ít lông rất nhỏ mịn màng. Lá cây mọc theo dạng đối xứng có cuống, lá đối. Lá với phiến lá có hình dáng của hình mác hơi dài, đầu hơi nhọn, ở phần cuống của lá nhỏ lại, mép là có các rang cưa khía nhỏ dạng tai béo. Có các cụm hoa dạng hình cầu,  với khá nhiều hoa, các hoa thường mọc trên 2 kẽ lá bắc đỡ. Hoa khá nhỏ và không có cuống hoa, đài có lông và có 2 môi, ở môi trên liền lặn còn phí dưới được xẻ 4 rãnh . Các tràng cánh hợp vừa với với cả 2 môi trên và dưới, phía bên trên thì xẻ 4, phía dưới nguyên xi liền lặn, có 4 cái nhị mỗi nhị là 2 chiếc .

–  Loại thực vật nhân trần tím, cây được người dân phía Nam gọi là nhân trần cái ngoài ra cầy còn được gọi với cái tên khác là cây nhân trần lá bắc( cái tên được đặt bởi một nhà nghiên cứu thực vật VN ) – Adenosma bracteosum Bonnati cùng họ với họ Hoa mõm chó. Toàn bộ phận của cây bao gồm các cành đều có màu dạng màu tím đỏ, các hoa bọng thành từng cụm hoa mỗi cụm hoa gọi là bông hoa dài mọc ở đầu cuống của các lá bắc tạo các tổng bao, các lớp lá bắc mọc ở bên trên xếp lên nhau, thành các dạng màng, trong suốt, hình dáo mác có chóp lá hơi nhọn.

–  Cây sinh trưởng và phát triển khá tốt ở phía nam đặc biệt những vùng đất có phèn. Cây thường sinh trưởng vào mùa mưa khoảng tháng 5 hàng năm và ra hoa vào khoảng tháng 10 đến 11. Đến tháng 1 hoặc tháng hai năm sau là cây lại tàn lụi. Các hạt già đi rồi tự rụng xuống đất rồi đến tháng 5 lại mọc thành các cây mới.

–  Thực vật nhân trần ở TQ – hay còn gọi là gọi nhân trần cao – Artemisia capillaris Thumnb., cây thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae) cây mọc tự nhiên đatk kích cỡ chiều cao cỡ 0,39-1,01m. Các lá cây xẻ thành các thùy khá nhỏ hình dạng như các sợi nhìn khá giống với cây thanh hoa. Đây là điều khác biệt rõ với 3 vị đã kể trên.

2.2,  Phổ biến phân bố, khai thác và điều chế

Cả nhân trần và bồ bồ đều là cây tự mọc hoang và rất ưu mọc ở các vùng đất cao như các đồi đất hoang, Những khu vực đồng bằng trung du miền bắc như vườn và ruộng, cây được mọc phân bố phổ biến nhất ở các tỉnh phía bắc là Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang. Ở phía nam thường có phổ biến nhân trần tía và cây bồ bồ chúng mọc đan xen nhau. Ngoài ra cây cũng có sinh trưởng và phát triển ở  Lào, Thái Lan, Campuchia, Ấn Độ, .

–     Hiện vẫn chưa có trường hợp nào bắt tay vào trồng và nhân rộng. Cậy tự mọc lên từ các hạt rugnj xuống. Người ta thường khai thác thu lượm cây khi cây đang thời kỳ ra hoa vào mùa hè. Sauk hi thu lượm toàn bộ phận cây đem rửa sạch phơi khô hoắc sấy khô, đem xếp thành từng xếp dài khoảng 30-35cm, rộng khoảng 5-6cm, trọng lượng 45- 65g, khoảng từ 20 cây mang hoa đem gộp lại thành bó gọn. Cũng có thể bó thành các bó lớn hơn.

–     Ngày nay các đơn vị hoạt động trong nghành dược thường thu mua chế biến cây bồ bồ với tên gọi là cây nhân trần. Để đánh giá nhận biết chính xác, chúng ta lên dựa theo các tiêu chí của các cây khô với các hoa là các cụm dạng hình cầu giống như cúc thì đó chính xác là cây bồ bồ cần làm thu mua để chế biến. Đối với các cây khô không thấy còn hoa, các hoa của cây bị rụng hết thì đó là nhân trần.

2.3,  Các thành phần cấu tạo của cây, thành phần hoá học

– Thực vật cây nhân trần với tên tiếng anh Adenosma caeruleum : Hiện nay có rất ít thông tin về loại này vì có rất ít nghiên cứ về nó, nghiên cứu rất ít và chưa đầy đủ .

– Thoảng qua chúng ta nhận thấy tinh dầu có mùi của cin-eol, là các hoạt chất của các loại tinh dầu tràm, khuynh điệp.

– Vào khoảng 1975, đã có các thử nghiệm và phân tích chỉ ra trong nhân trần có chứa saponin tritecpenic, flavonozit, axit nhân thơm, cumarin và các tinh dầu thơm. Toàn bộ phận của cây chứa tỉ lệ 0,9 – 1,0% tinh dầu tỉ lệ khá cao, các hoa chứa tỉ lệ 1,85-1,87% tinh dầu tỷ trọng 0,8042 (25°) αD=l,4705 (20°) αD=+408 Các bộ phận này chứa tỉ lệ tinh dầu khá cao. Chú ý phân biệt các thành phần tinh dầu chiết xuất từ nhân trần khác biệt với các thành phần tinh dầu có trong cây bồ bồ.

– Thực vật bồ bồ có tên gọi tiếng anh là Adenosma capitatum được F. Guichard và J. Clemensat nghiên cứu và phân tích vào khoảng 1939 với tên gọi của nó là cây nhân trần, các phân tích đã chỉ ra và đo được khoảng 1,67% kali nitrat, dược chất saponin có chỉ số bọt là 2.600 khá tốt, dược chất glucozit tan được trong axeton và trong ête nhưng không tan trong nước và chứa khoảng 0,7% tinh dầu không cao. Tinh dầu chiết xuất từ cây bồ bồ ở dạng lỏng, có màu vàng, mùi hăng hơi hắn khá giống với mùi long não và mùi đặc trưng của cây bạc hà, có vị nóng. Có thể tan mạnh trong cồn metylic, etylic, clorofoc và các dung môi hữu cơ khác. Tỷ trọng ở 15°C là 0,914, chỉ số khúc xạ ở 20°C là 1,4733 và ở 30°C là 1,4717. Trong tinh dầu có các thành phần chính là 20% hợp chất oxy có khả năng hòa tan được với dung dịch resorcin, hàm lượng 50%. Có chỉ số axit vào khoảng 1,4. Các chỉ số khác như xà phòng hoá là 11,5; có các chỉ số axetyl hoá 38; và chỉ số iốt 121,4.

– Vào khoảng 1950, Các nghiên cứu và phân tích đã cất được từ cây bồ bồ với tỉ lệ tinh dầu khá cao vào khoảng 1% , các phân tích đã tìm thấy có vào khoảng 51.monoterpen và 2d.sesquiterpen trong đó có khoảng 38,5% cineol, Các phân tích cũng tìm thấy limonen.

– Vào khoảng 1974, Có thử nghiệm và phân tích của nhà thực vật Lê Tùng Châu đã phân tích chỉ ra trong cây bồ bồ Viet Nam chứa 22,6% tinh dầu, tỉ lệ vô cùng cao.

– 1. limonen, 11,6% humulen, 33,5% 1. fenechon và 5,9% cineol. Các phân tích cũng chỉ ra bao gồm các saponin, tritecpenic, flavonoit, axit nhân thơm và cumarin. Các bộ phận của cây chiếm 0,8% tinh dầu, với lá chiếm 2,15%, các hoa chiếm 0,82%, với tỷ trọng 0,912 (20°) αD =1,4768, D-44,92°.

– Một nghiên cứu phân tích khác tại HCM đã chỉ ra thấy trong cây nhân trần tía có chứa tinh dầu với tỉ lệ vào khoảng 0,25%, tinh dầu của cây với màu vàng sẫm, chiếm tỷ trọng 0,890, có chỉ số khúc xạ 1,496, sắc ký khi thấy 19 pic trong đó có 5 pic lớn cineol khoảng 18%. Phân tích cũng chỉ ra cây có chứa cấc flavonoit, các hợp chất polyphenol và đặc biệt là cumarin.

– Thực vật nhân trần TQ có tên tiếng anh là Artemisia capillaris, Các phân tích chỉ ra cay chứa hàm lượng với tỷ trọng thấp khoảng 0,23%, bao gồm các thành phần chính là pinen, capilen C6H5 – C7H9 và một loại xeton.

2.4, Các công dụng dược lý của loài

– Chiết xuất cây nhân trần rất tốt cho việc tiết mật và có làm cho gan được nâng khả năng thải độc tốt lên. Nhưng câu bồ bồ có tác động tốt mạnh mẽ hơn cây nhân trần, ở khía tối nói trên khía cạnh có tác động mạnh mẽ lên gan và mật hơn.

– Cây nhân trần có lợi ích cho chống viêm trên cả ba mô hình. Hai cây nhân trần và bồ bồ đều có công dụng như nhau ở mô hình phù caolin và teo tuyến ức, nếu xét trên mô hình u hạt thì lợi ích của bồ bồ hơn gấp 2 lần của nhân trần. Trên phù caolin với liều 15g/kg thể trọng thì ức chế phù của nhân trần lại có hướng giảm.

– Công dụng kháng khuẩn của bồ bồ tốt hơn của nhân trần đặc biệt là với trực khuẩn lỵ. Ngược lại bồ bồ ức chế yếu hơn nhân trần với Staphylococcus và Streptococcus.

– Bồ bồ có tác dụng  rõ rệt lên tiết dịch vị còn nhân trần thì không: Nhân trần không giảm loét dạ dày, không giảm tiết dịch vị, có làm giảm axit tự do và axit toàn phần tuy nhiên hai tác dụng này lại giảm trong trường hợp dùng liều cao.

– Điểm chung là cả nhân trần và bồ bồ đều lành tính, không độc hại.

Loại thực vật cây nhân trần tía

3.1, Các lợi ích của cây

–  Các dịch dịch chiết cồn 900 chứa dộc tính cao hơn nước sắc nhân trần tía. Với liều lượng 300mg/ kg thể trọng dịch chiết nước không thấy chuột lang chết.

–  Làm tăng lượng tiết mật trên chuột lang. Lượng mật tăng gần 25% so với lô đối chứng.

– Nhưng đối với nhân trần Trung Quốc, Artemisia capillaris chủ yếu các tác giả nghiên cứu tác dụng chữa sốt và một số tác dụng khác.

– Năm 1929, 3 nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tiêm thuốc chiết bằng nước từ cây nhân trẩn Trung Quốc cho chó đánh mê, đã phát hiện rằng nhân trần có tác dụng tăng sự bài tiết và ức chế

– Năm 1952, một nhà nghiên cứu Nhật Bản khác (Sơn Bản Dục Hoàng) đã tiến hành nghiên cứu tác dụng của tinh dầu nhân trần Trung Quốc trên một số động vật đã phát hiện rằng đối với động vật không xương sống thì tác dụng gây mê (ví dụ đối với giun đất, giun lợn, giun người): Thí nghiệm trên giun đất, ếch, giun lợn thì thấy với liều nhỏ có tác dụng kích thích cơ vận, làm cho tăng hiện tượng co rút, nhưng với liều cao lại có tác dụng ức chế và gây mềm dần, đối với ruột ếch và mẩu ruột thỏ cô lập lúc đầu thấy có tác dụng ức chết nhu động, nếu tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì thấy huyết áp hạ thấp: Với liều nhỏ làm biên độ hô hấp tăng cao, nhưng với liều cao thì lại làm đình chỉ hô hấp mà chết.

– Năm 1956, Khổng Thế Tích (Trung Hoa y học tạp chí, 10) đã báo cáo thí nghiệm tác dụng của dung dịch 20% nhân trần trong cồn 70° cho thỏ uống với liều 10mg trên 1kg thể trọng thì thấy nhân trần có tác dụng hạ sốt rõ rệt đối với thỏ đã gây sốt do tiêm vi trùng thương hàn, tuy nhiên cùng với liều lượng đó mà dưới dạng thuốc sắc thì tác dụng rất yếu.

– Năm 1947, Từ Tấn (Nông báo, 1) đã nghiên cứu tác dụng diệt trùng của 400 vị thuốc Trung Quốc đã phát hiện nhân trần có tác dụng ức chế khá mạnh đối với vi trùng tụ cầu khuẩn (Staphylococus).

– Năm 1956, (Dược học tạp chí, 76 (4): 397- 400) một số nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chứng minh tác dụng ức chế của nhân trần đối với một số khuẩn gây bệnh ngoài da, tác dụng này không giảm dù vị thuốc được xử lý trên 100oC.

3.2,  Ích lợi và liều lượng sử dụng

– Mặc dầu cây rất khác nhau, nhưng nguồn gốc sử dụng nhân trần dựa vào kinh nghiệm ghi trong sách cổ. Theo tài liệu cổ nhân trần vị đắng, tính bình, hơi hàn vào kinh bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, dùng chữa thân thể nóng, da vàng người vàng, tiểu tiện không tốt.

– Trong nhân dân, nhân trần thường dùng cho phụ nữ sau khi sanh nở để giúp cho ăn ngon cơm, chóng hồi phục cơ thể. Còn dùng làm thuốc chữa sốt, ra mồ hôi, thông tiểu tiện, chữa bệnh vàng da, bệnh gan.

– Trong thú y, người ta dùng bồ bồ chữa bệnh trâu bò ỉa cứt trắng.

– Ngày dùng 4 đến 6g, có khi tới 20g dưới hình thức thuốc sắc, sirô, thuốc pha hay thuốc viên.

– Nên nghiên cứu tác dụng so sánh của 3 vị thuốc nhất là 2 vị thuốc của nước ta.

3.3,  Các bài thuốc kê có chứa nhân trần

Điều trị chữa các bệnh sốt và vàng da, chỉ ra mồ hôi ở đầu còn toàn bộ than người thì không có mồ hôi, khô miệng, rất khó khi tiểu tiện, bụng cảm thấy bị đầy: Sử dụng cao nhân trần  khô cao thang: Cao nhân trần TQ khoảng 24g, Cao quả chi tử (từ cây dành dành) khoảng 12g, đại hoàng khoảng độ 4g, các thành phần được làm sạch cho vào lượng nước  khoảng 800ml, đem sắc cho đến khi ngót còn khoảng 250ml thì ngừng đem ra chia 3 liều uống 3 lần trong ngày. Trong đơn này ở Việt Nam ta thường thay nhân trần TQ bằng nhân trần Viet Nam hoặc bồ bồ.

Công ty Cổ phần Dược phẩm NOVACO:
Đ/C : P422 - 423 Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự, Số 6 Đặng Văn Ngữ, P. Trung Tự, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội. Hotline 0904 65 15 13
 
Chi nhánh TP. HCM Công ty Cổ phần Dược phẩm NOVACO:
Đ/C : A001, 36 Trịnh Đình Thảo, Phường Hoà Thạnh, Quận Tân Phú, TP.HCM.
Hotline: 0932 34 82 62.

Nhà máy sản xuất: Nguyên Khê, Đông Anh, TP. Hà Nội.
 
Điện thoại:
Hà Nội: 024.354.09126/024.354.09127/ 024.354.09128
Hồ Chí Minh: 028. 3973 8616
 
Mail: info@novaco.vn
Website: http://novaco.vn. http://vietherbal.com/
HOTLINE: 090 465 1513